Những vấn đề dân số và di dân

06/11/2017

    Lĩnh vực xã hội học về dân số được quan tâm ngay từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20. Lần đầu tiên được hình thành và phát triển ở Việt Nam, chuyên ngành xã hội học dân số đã thu hút sự chú ý và quan tâm của các nhà lập chính sách, các cơ quan quản lý và giới khoa học. Cùng với những bước tiến đầu tiên trong chương trình nghiên cứu cơ bản về động thái dân số nông thôn, ngay từ năm 1984 Viện đã tiến hành các nghiên cứu khởi đầu về dân số tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và khu vực Tây Nguyên. 

 

    Những kết quả thu được đã khẳng định vai trò không thể thiếu của xã hội học dân số như một chuyên ngành nghiên cứu cơ bản, góp phần nâng cao vị thế của Viện trên lĩnh vực dân số và phát triển. Lần đầu tiên, Viện đã tham gia với tư cách là cơ quan phản biện cho việc hoạch định Chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình do Ủy ban Quốc gia Dân số - Kế hoạch hóa gia đình chủ trì thực hiện.

 

    Ghi nhận những đột phá thành công của Viện trên lĩnh vực này, Chính phủ và Quỹ Dân số Liên hiệp quốc đã quyết định hỗ trợ cho Viện Dự án dân số VIE/88/P05 Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học xã hội về dân số ở Việt Nam. Dự án đã phát triển một hướng đi đúng đắn trong lĩnh vực xã hội học dân số. Các khóa đào tạo, huấn luyện trong khuôn khổ dự án đã tập hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều cán bộ nghiên cứu trong và ngoài Viện đến từ các vùng miền của đất nước tiếp cận được những kiến thức cơ bản về xã hội học dân số. Đây cũng là lần đầu tiên, thông qua sự hỗ trợ của dự án, Viện có thêm được cơ sở vật chất, nguồn lực phục vụ công tác nghiên cứu và đào tạo cơ bản, tạo tiền đề cho việc xây dựng và phát triển Viện vững mạnh.

   

    Trong thời kỳ 10 năm sau (1987-1996), Viện Xã hội học đã tập trung vào các hoạt động nghiên cứu, đào tạo về dân số trong thời kỳ Đổi mới đất nước. Đây là một chương trình nghiên cứu dài hạn do Ủy ban Quốc gia Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế cùng với các đoàn thể quần chúng liên kết thực hiện. Viện Xã hội học cũng đã tham gia vào các đề tài cơ bản do các cơ quan Chính phủ chủ trì. Bằng những nghiên cứu có tính đột phá và có chuyên môn sâu, kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ những luận điểm cơ bản. Trong khi các cơ quan lập chính sách đang tìm hướng tiếp cận đối với công tác dân số, Viện đã đưa ra câu trả lời cụ thể và đúng đắn: để có thể giảm sinh một cách bền vững, không thể y tế hóa chương trình dân số mà phải xã hội hóa công tác dân số. Những năm sau đó, khi nông nghiệp và nông thôn Việt Nam đang chuyển mình đi lên với những đổi mới kinh tế - xã hội, các nghiên cứu phân tích tác động chính sách của Viện đã dự báo chính xác rằng chính sách khoán trong nông nghiệp không làm gia tăng mức sinh và nhu cầu sinh đẻ của người nông dân. Thực tế đã khẳng định luận điểm này: Cùng với những cải thiện trong thu nhập và mức sống, tỷ suất sinh ở khu vực nông thôn đã giảm nhanh và tiếp tục giảm trong những năm qua.

 

    Song song với công tác nghiên cứu, thông qua các dự án do Quỹ Dân số Liên Hiệp quốc hỗ trợ, Viện đã đẩy mạnh công tác đào tạo và giảng dạy về Xã hội học Dân số cho các cán bộ trong và ngoài Viện. Một loạt công trình Tuyển tập các công trình chọn lọc trong dân số học xã hội, Dân số đồng bằng Bắc Bộ - những nghiên cứu từ góc độ xã hội học, Các phương pháp đánh giá chương trình kế hoạch hóa gia đình được xuất bản đã trở thành nguồn tư liệu hữu ích phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và giảng dạy về xã hội học dân số thời kỳ này.

 

    Trong giai đoạn từ 2005 đến nay, Việt Nam đã bước sang giai đoạn cuối của quá độ dân số với mức sinh ổn định gần mức thay thế và tỷ suất tử vong ở mức khá thấp. Cùng với quá trình đó, di chuyển dân số - lao động đã trở thành một thực tế phản ánh quy luật khách quan, có tác động mạnh mẽ đến đời sống và các quá trình kinh tế - xã hội của đất nước. Trước đòi hỏi của thực tế, Viện tiếp tục chủ động mở rộng hướng nghiên cứu mới trên lĩnh vực di dân thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, qua đó tiếp tục phát huy được thế mạnh và vai trò đi đầu trong việc triển khai những công trình nghiên cứu về dân số và phát triển. Viện đã có những phát hiện và kiến nghị quan trọng về vai trò của di dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, về chính sách di dân tự phát, về quản lý người nhập cư ở đô thị trong điều kiện kinh tế thị trường, về phương thức và tác động của xuất khẩu lao động và các dòng di dân từ Việt Nam ra quốc tế.

 

    Các nghiên cứu trên lĩnh vực này đã chỉ ra tính tất yếu khách quan của di dân trong quá trình phát triển. Di dân nông thôn - thành thị không làm gia tăng tỷ lệ sinh và ảnh hưởng đến các mục tiêu dân số ở nơi đến. Di dân có đóng góp tích cực vào sự nghiệp xóa đói, giảm nghèo và phát triển nông thôn; góp phần phân bố lại nguồn lực theo nhu cầu của thị trường lao động; Quản lý dân cư và xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa không thể có hiệu quả nếu dựa trên các biện pháp hành chính, dựa trên sự phân biệt tình trạng cư trú. Thay vào đó, cần chú ý đến những vấn đề thu nhập, việc làm và an sinh xã hội cho lao động di cư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em di cư, lao động di cư nghèo khu vực phi chính thức.

 

    Những quan điểm và luận cứ khoa học nói trên đã nhận được sự hưởng ứng, tham khảo và sử dụng rộng rãi của các bộ ngành hoạt động trong lĩnh vực này như Ban Tuyên giáo, Văn phòng Quốc hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế, v.v. Viện đã xuất bản một số cuốn sách chuyên khảo về di dân nhằm góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và đào tạo trên lĩnh vực này. Nhiều hội nghị, hội thảo quốc gia, khu vực hay quốc tế đều có sự tham gia của những cán bộ, góp phần khẳng định vị thế của Viện với khu vực và quốc tế trên lĩnh vực dân số, di dân và phát triển.

 

Viện Xã hội học

Các tin cũ hơn.............................

    Nội dung đang được cập nhật