Một số thành tựu nghiên cứu

13/08/2015

MỘT SỐ LĨNH VỰC VÀ THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU CỦA VIỆN XÃ HỘI HỌC SAU 30 NĂM ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN

Viện Xã hội học đã trưởng thành cùng với thực tiễn Đổi mới của đất nước trong 30 năm qua. Quá trình chuyển đổi của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đem lại những biến đổi xã hội nhanh chóng và sâu sắc, là “phòng thí nghiệm” cho các nghiên cứu xã hội học. Các công trình nghiên cứu của Viện đã tập trung vào việc nhận diện những biến đổi của cơ cấu xã hội và các khuôn mẫu hành vi, lối sống của các nhóm xã hội, chỉ ra thực trạng và xu hướng biến đổi của các nhóm xã hội quan trọng trong cơ cấu xã hội Việt Nam hiện nay. Những kết quả nghiên cứu được tóm tắt dưới đây phản ánh chặng đường phát triển của Viện 30 năm qua:

1. Nghiên cứu cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội và định hướng giá trị

Chủ đề nghiên cứu này lần đầu tiên được triển khai bằng cuộc nghiên cứu “Thực trạng kinh tế xã hội 4 quận nội thành Hà Nội” theo chỉ thị của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những chỉ báo đầu tiên của sự biến đổi xã hội và phân tầng xã hội tại Thủ đô dưới tác động của chính sách Đổi mới. Nghiên cứu cũng chỉ ra tâm thế và thái độ của các tầng lớp dân cư khác nhau đối với hiện tượng phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo. Đa số người dân coi đây là hiện tượng bình thường, chấp nhận được. Đây là thông tin có ý nghĩa làm cơ sở cho các quyết định quản lý vĩ mô về những “liều lượng” cần thiết nhằm đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước trong nửa sau của thập niên 90.

Tiếp sau đó là hàng loạt những hoạt động nghiên cứu thuộc Chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KX-04, có nội dung phục vụ xây dựng nghị quyết Đại hội Đảng IX, với sự tham gia của nhiều cán bộ nghiên cứu của Viện. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra tác động tích cực của phân tầng xã hội trong việc khơi dậy tính năng động xã hội của các cá nhân, thoát khỏi tâm lý ỷ lại, trông chờ, thụ động của thời bao cấp. Tuy nhiên, thực tế không thể tránh khỏi là khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, xuất hiện các nhóm dễ bị tổn thương, các nhóm yếu thế do không được hưởng lợi tương xứng từ các thành quả của Đổi mới và tăng trưởng. Để khắc phục tình trạng này cần có những chính sách xã hội năng động và hiệu quả trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, thể chế hóa và luật hóa các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội.

2. Hệ thống chính trị và dân chủ cơ sở

Cùng với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội cũng đang tạo ra những xu hướng mới trong mô hình quản lý và trong nhận thức xã hội. Quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội được phản ánh qua việc triển khai rộng khắp Quy chế Dân chủ cơ sở.

Nghiên cứu đầu tiên theo hướng này của Viện là khảo sát đánh giá về sự kiện Thái Bình (tháng 6-7/1997). Vấn đề nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa người dân và cán bộ, vấn đề phát huy dân chủ cơ sở, đảm bảo công bằng xã hội. Báo cáo nghiên cứu về sự kiện Thái Bình đã phân tích toàn diện mối quan hệ này và đề ra những khuyến nghị với các cơ quan, các cấp có trách nhiệm. Sau này, những phát hiện từ cuộc nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và thực hành dân chủ nông thôn với những bài học kinh nghiệm được rút ra qua sự kiện này.

Công trình nghiên cứu về Hệ thống Chính trị cơ sở theo yêu cầu của Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ cuối năm 2001, đã góp phần hình thành Đề án xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trình Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX). Kết quả nghiên cứu đã cung cấp và phân tích nhiều nội dung có ý nghĩa tham khảo tốt cho Ban soạn thảo Nghị quyết Trung ương V về những vấn đề của hệ thống chính trị cơ sở nông thôn. Nghiên cứu đã nhận diện thực trạng hoạt động của bộ máy chính trị cơ sở và chỉ ra sự phức tạp của quá trình dân chủ hóa ở cơ sở. Dân chủ không tách rời dân trí và dân sinh bởi dân trí và dân sinh là nền tảng để thực hành dân chủ ở cấp độ tương ứng. Trong bối cảnh nông thôn Việt Nam, tuy mức sống (dân sinh) và văn hóa, nhận thức (dân trí) của người dân được cải thiện song còn khá hạn chế. Điều này chi phối và quy định hình thức quy mô, mức độ của thực hành dân chủ, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở ở nông thôn.

3. Những vấn đề biến đổi dân số và chính sách dân số

Lĩnh vực xã hội học về dân số được quan tâm ngay từ đầu những năm 80 khi Viện Xã hội học được thành lập. Lần đầu tiên được hình thành và phát triển ở Việt Nam, chuyên ngành xã hội học dân số đã thu hút sự chú ý và quan tâm của các nhà lập chính sách, các cơ quan quản lý và giới khoa học. Cùng với những bước tiến đầu tiên trong chương trình nghiên cứu cơ bản về động thái dân số nông thôn, ngay từ năm 1984 Viện đã tiến hành các nghiên cứu khởi đầu về dân số tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ và khu vực Tây Nguyên.

Trong khuôn khổ Dự án Dân số VIE/88/P05 "Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học xã hội về dân số ở Việt Nam”, nhiều khóa đào tạo, huấn luyện trong khuôn khổ dự án đã tập hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều cán bộ nghiên cứu trong và ngoài Viện tiếp cận được những kiến thức cơ bản về xã hội học dân số. Thông qua sự hỗ trợ của dự án, Viện có thêm được cơ sở vật chất, nguồn lực phục vụ công tác nghiên cứu và đào tạo cơ bản, tạo tiền đề cho việc xây dựng và phát triển Viện vững mạnh. Những kết quả thu được của dự án đã khẳng định vai trò không thể thiếu của xã hội học dân số như một chuyên ngành nghiên cứu cơ bản trong xã hội học.

Trong thời kỳ Đổi mới, Viện Xã hội học đã tham gia sâu rộng vào các chương trình, đề tài do các cơ quan Chính phủ chủ trì. Bằng những nghiên cứu có tính đột phá, bài bản với chuyên môn sâu, nhiều nghiên cứu đã làm sáng tỏ những luận điểm cơ bản trên lĩnh vực dân số. Trong khi các cơ quan lập chính sách đang tìm hướng tiếp cận đối với công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình, Viện đã đưa ra câu trả lời cụ thể và đúng đắn: để có thể giảm sinh một cách bền vững, không thể y tế hóa chương trình dân số mà phải xã hội hóa công tác dân số, thực hiện mục tiêu dân số-kế hoạch hóa gia đình.

Việt Nam hiện đang bước sang giai đoạn cuối của quá độ dân số với sự giảm nhanh về mức sinh và ổn định tỷ suất tử vong ở mức thấp. Cùng với quá trình đó, di chuyển dân số-lao động đã trở thành một thực tế phản ánh quy luật khách quan, có tác động mạnh mẽ đến đời sống và các quá trình kinh tế-xã hội của đất nước. Trước đòi hỏi của thực tế, Viện đã chủ động mở ra hướng nghiên cứu mới trên lĩnh vực di dân thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, qua đó tiếp tục phát huy được thế mạnh và vai trò đi đầu trong việc triển khai những công trình nghiên cứu về dân số và phát triển.

Các nghiên cứu trên lĩnh vực này đã chỉ ra tính tất yếu khách quan của di dân trong quá trình phát triển. Di dân nông thôn-thành thị không làm gia tăng tỷ lệ sinh và ảnh hưởng đến các mục tiêu dân số ở nơi đến. Di dân có đóng góp tích cực vào sự nghiệp xóa đói, giảm nghèo và phát triển nông thôn; góp phần phân bố lại nguồn lực theo nhu cầu của thị trường lao động; Quản lý dân cư và xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa không thể có hiệu quả nếu dựa trên các biện pháp hành chính, dựa trên sự phân biệt tình trạng cư trú. Thay vào đó, cần chú ý đến những vấn đề thu nhập, việc làm và an sinh xã hội cho lao động di cư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em di cư, lao động trong khu vực phi chính thức,…

4. Những vấn đề xã hội học đô thị

Nghiên cứu những vấn đề xã hội ở đô thị cũng là một chủ đề trọng tâm của Viện Xã hội học ngay từ những năm đầu thành lập. Phát huy thế mạnh của các phương pháp xã hội học, các nghiên cứu của Viện đã chỉ ra những bất cập giữa quản lý kinh tế và quản lý xã hội ở các đô thị, đưa ra những khuyến nghị cho giới hoạch định chính sách quản lý đô thị.

Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mặc dù Việt Nam có mức độ đô thị hóa còn thấp, quá trình này cũng đã tạo ra được khuôn mẫu phát triển mới với các đặc trưng cơ bản như: quy mô gia đình nhỏ hơn; hôn nhân ngày càng ít phổ biến hơn và tuổi kết hôn lần đầu cao hơn; ly hôn có xu hướng gia tăng và các mối quan hệ thân tộc lỏng lẻo hơn; mức sinh thấp hơn, đặc biệt là ở các nhóm tuổi trẻ; lối sống ngày càng phụ thuộc vào dịch vụ công cộng; chất lượng sống của các gia đình đô thị cao hơn.

Cùng với những thay đổi này là sự hình thành các nhu cầu mới của dân cư đô thị, từ nhu cầu nhà ở, nhu cầu đi lại, sinh hoạt, học tập, làm ăn, v.v... Trên cơ sở phân tích thành phần xã hội-nghề nghiệp của nhóm người nghèo, các kết quả nghiên cứu đã khẳng định khả năng tự vươn lên, tính năng động của người nghèo. Nhiều phát hiện nghiên cứu đã góp phần luận chứng cho các giải pháp quản lý đô thị tại một số thành phố nhằm đáp ứng những nhu cầu đa dạng của dân cư trong điều kiện đô thị hóa nhanh.

Trong giai đoạn sau Đổi mới, nghiên cứu xã hội học đô thị từng bước tiếp cận được với những nghiên cứu quốc tế thông qua các dự án hợp tác như nhà ở cho người nghèo đô thị; hiện trạng quản lý, sử dụng và nhu cầu nhà ở của dân cư Hà Nội; nâng cao năng lực giảng dạy và nghiên cứu về phát triển đô thị,… Các hoạt động nghiên cứu này đã khuyến khích việc trang bị kiến thức xã hội học cho các nhà kiến trúc, cán bộ quy hoạch, phổ biến việc ứng dụng nghiên cứu xã hội trong lĩnh vực quy hoạch và phát triển đô thị, cũng như góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho các chương trình phát triển đô thị và nhà ở đô thị Việt Nam.

5. Những vấn đề xã hội học nông thôn

Ngay từ ngày đầu thành lập, Viện Xã hội học đã xem nghiên cứu nông thôn là một trong những hướng nghiên cứu then chốt. Hệ vấn đề chung của lĩnh vực nghiên cứu này là sự biến đổi và phát triển xã hội nông thôn theo định hướng thị trường hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển bền vững. Có thể thấy thành quả nghiên cứu trên một số chủ đề quan trọng như sau:

Chuyển đổi cơ cấu lao động, nghề nghiệp xã hội nông thôn, mà chủ yếu ở vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng: Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra 3 xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động-nghề nghiệp ở vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng: a) Xu hướng đa dạng hóa (hỗn hợp) việc làm-nghề nghiệp, tức là người dân tìm kiếm mọi việc làm có thể được để tạo ra các nguồn thu nhập cho gia đình. b) Xu hướng kết hợp giữa các loại việc làm với nhau, tạo thành nhóm nghề liên hoàn hỗ trợ và phát huy hiệu quả lẫn nhau. c) Xu hướng chuyên môn hóa việc làm-nghề nghiệp, tức là đi sâu vào một nghề độc lập, yêu cầu có trình độ tay nghề cao hơn, hiệu quả kinh tế mang lại cũng lớn hơn. Xu hướng chuyển đổi cơ cấu lao động-nghề nghiệp xã hội trên đã có tác động lớn đến quá trình và các nhân tố của phân tầng xã hội theo mức sống ở nông thôn. Sự chuyển biến từ hộ thuần nông, thu nhập từ nông nghiệp là chính sang hộ thu nhập từ hoạt động phi nông ngày càng tăng là nguyên nhân chính làm tăng thu nhập.

Cùng với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu-nghèo cũng đang diễn ra ở cả khu vực nông thôn. Nhóm hộ nghèo vẫn còn khá cao và tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, đặc biệt khu vực miền núi. Thực trạng phân hóa giàu-nghèo ở Việt Nam hiện nay là phân hóa vùng/khu vực. Nếu lấy đô thị làm tâm và theo chiều từ đô thị về nông thôn, về tiếp vùng sâu vùng xa, thì tốc độ phân hóa ở đô thị diễn ra mạnh nhất, càng lan tỏa ra các vùng nông thôn xung quanh càng yếu dần, và hầu như còn phẳng lặng ở vùng miền núi. Tuy nhiên, theo mức độ phân hóa, quá trình này diễn ra theo xu hướng ngược lại, mức chênh lệch giàu nghèo (nghèo tương đối) được thấy rõ nhất tại nông thôn miền núi, nơi các chương trình giảm nghèo quốc gia được triển khai trong nhiều năm qua.

Kết quả của hướng nghiên cứu này được thể hiện qua nhận định tổng quát về bản chất và xu thế phát triển xã hội nông thôn Việt Nam: Bản chất của sự phát triển nông thôn ngày nay là sự chuyển đổi từ xã hội hỗn hợp truyền thống trọng nông nghiệp, nông thôn sang xã hội hỗn hợp hiện đại trọng công nghiệp, đô thị nhằm nâng cao năng lực con người và chất lượng sống. Thị trường hóa, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế là tất yếu logic khách quan. Vấn đề là cần nghiên cứu các điều kiện để thúc đẩy các quá trình này theo hướng phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

6. Những vấn đề xã hội học văn hóa

Trong thời kỳ Đổi mới, bên cạnh những thành tựu trong lĩnh vực kinh tế, đời sống văn hóa tinh thần của đất nước cũng có nhiều thay đổi. Các nghiên cứu về văn hóa dưới góc độ xã hội học đã tập trung vào những hướng cơ bản sau đây:

Nghiên cứu về giá trị và sự phục hưng các giá trị tinh thần truyền thống cho thấy sự đề cao các quan hệ gia đình, cộng đồng, đề cao hiệu quả kinh tế, học thức, tôn trọng người cao tuổi,... là những biểu hiện tích cực trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường; Bên cạnh đó, những thay đổi giá trị xã hội về cơ bản vẫn gắn với các giá trị cổ truyền ăn sâu vào nếp nghĩ của người dân. Một mặt, quá trình này đã khơi dậy dòng chảy của văn hóa dân tộc trong đời sống của các thế hệ hôm nay, góp phần xây dựng mô hình phát triển bền vững của Việt Nam, song mặt khác những giá trị văn hóa truyền thống khi được phục hưng cũng tạo nên những xung lực và trở ngại đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Nghiên cứu sử dụng thời gian và sự hưởng thụ văn hóa của các nhóm dân cư cho thấy trong thời kỳ Đổi mới việc hưởng thụ văn hóa của người dân, trong đó đặc biệt là nhóm phụ nữ và nhóm người cao tuổi đã được cải thiện đáng kể: khoảng thời giờ rỗi tăng lên, các trang thiết bị viễn thông như điện thoại di động, interrnet ngày càng dễ tiếp cận nên các hình thức hưởng thụ văn hóa, trong đó bao gồm cả các hình thức truyền thống ngày càng phong phú. Xu hướng đi du lịch, lễ hội kết hợp với nghỉ ngơi giải trí trở nên nổi bật về sử dụng thời gian, nhất là trong đối tượng cán bộ công chức và các nhóm hộ có thu nhập.

Nếu sự vận hành của văn hóa diễn ra một chiều từ phía Nhà nước đến người dân trong thời kỳ bao cấp đã tạo ra tâm lý trông chờ, ỷ lại, thì phương thức cùng tham gia trong những năm Đổi mới không những động viên được sức người, sức của, mà quan trọng hơn còn phát huy được những tố chất thông minh và sáng tạo, những tri thức và kinh nghiệm của mọi địa phương và mọi người trong cuộc. Việc tham gia ngày càng đông đảo của các tầng lớp, các nhóm cư dân khác nhau vào các công đoạn sáng tạo, lưu truyền và bảo tồn văn hóa, đặc biệt là các di sản truyền thống.

7. Những vấn đề xã hội học gia đình

Các nghiên cứu về gia đình của Viện Xã hội học trong 30 năm qua tập trung vào sự biến đổi cơ cấu và chức năng gia đình, lý giải phân tích những chiều cạnh của sự biến đổi, và các hệ lụy xã hội của quá trình này dưới tác động của chuyển đổi giá trị và hành vi, quá độ dân số trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam. Quy mô gia đình và số lao động trung bình trong hộ gia đình ở đô thị cao hơn so với ở nông thôn. Điều đó không chỉ do ảnh hưởng của những yếu tố nhân khẩu học như mức sinh, tuổi thọ bình quân, mà còn do những yếu tố xã hội khác như mô hình sống chung, điều kiện ở, đất đai, tiếp cận nguồn lực giữa đô thị và nông thôn, đặc biệt sau chính sách khoán hộ.

Những tác động của biến đổi định hướng giá trị, di cư, hậu quả của quá độ giảm sinh dẫn đến sự đa dạng của loại hình và tổ chức gia đình. Có thể nhận thấy những khía cạnh nổi bật của sự biến đổi cơ cấu gia đình qua việc suy giảm quy mô gia đình, phụ nữ làm chủ hộ tăng lên và tỷ lệ hộ gia đình kết hợp và gia đình gốc mở rộng ở khu vực đô thị cao hơn ở nông thôn. Hiện xuất hiện kiểu loại gia đình khuyết thiếu mà chủ yếu là loại hình gia đình phụ nữ đơn thân.

Khi xem xét chức năng xã hội hóa của gia đình, một trong những vấn đề còn ít được nghiên cứu là chức năng xã hội hóa giới. Phân tích quan niệm và thực tế nuôi con của cha mẹ cho thấy sự khác biệt giới trong các chuẩn mực, kỳ vọng, đối xử, và những thành kiến dẫn đến xã hội hóa bất bình đẳng giới vẫn dai dẳng. Quá trình xã hội hóa này dẫn đến sự phát triển nhân cách không cân bằng và thiếu đầy đủ đối với cả trẻ em gái và trẻ em trai.

Kết quả chính từ các nghiên cứu xã hội học về gia đình cho thấy khả năng thích ứng của gia đình trước xu thế của những biến đổi xã hội và kinh tế thị trường, toàn cầu hóa hiện nay, đồng thời mang lại những tác động khác nhau đối với sự phát triển của cá nhân và ổn định của xã hội. Tuy nhiên, thích ứng với những điều kiện xã hội đang biến đổi không phải là như nhau đối với mọi gia đình. Bạo lực gia đình trên cơ sở giới là vấn đề nổi bật qua các nghiên cứu. Sự tồn tại của những định kiến giới, những khó khăn về kinh tế là những yếu tố dẫn đến bạo lực trong gia đình và bất bình đẳng giới.

8. Những vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Trên bình diện xã hội học, nhiều nghiên cứu của Viện đã sớm quan tâm đến chủ đề sức khỏe và phát triển cộng đồng. Kết quả nghiên cứu sâu đã khẳng định vai trò hết sức quan trọng của gia đình trong chăm sóc sức khỏe. Hệ thống chăm sóc sức khỏe cộng đồng luôn đặc trưng bởi mối quan hệ y tế nhà nước và y tế tư nhân sau khi dịch vụ y tế tư được khuyến khích phát triển mạnh trong thời kỳ Đổi mới.

Các nghiên cứu về chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng đã đưa ra những khuyến nghị chính sách nhằm đảm bảo an sinh xã hội và chuẩn bị trong bối cảnh dân số Việt Nam đã bước sang giai đoạn già hóa. Bảo hiểm xã hội và hệ thống lương hưu cho người cao tuổi là rất cần thiết. Giải pháp nền tảng là các hoạt động chăm sóc dựa vào cộng đồng, được đầu tư tài chính và lồng ghép vào các mô hình chăm sóc toàn diện cho mọi lứa tuổi.

Nhiều nghiên cứu của Viện còn tập trung vào lĩnh vực cụ thể như sức khỏe sinh sản, hành vi chăm sóc sức khỏe, giá trị sức khỏe trong thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cũng như một số vấn đề nảy sinh từ đời sống xã hội đương đại như thất nghiệp, HIV/AIDS, tội phạm, tệ nạn xã hội, buôn bán phụ nữ và trẻ em, v.v... Các nghiên cứu về sức khỏe của đồng bào dân tộc, lao động di cư, người nghèo, phụ nữ và trẻ em đã cho thấy những thiếu hụt cả về chính sách lẫn thực tiễn về bảo trợ xã hội cho những nhóm yếu thế này. Viện đã góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược-chính sách sức khỏe nhằm nâng cao hiệu quả và đa dạng hóa dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân theo hướng công bằng và chất lượng.

9. Những vấn đề xã hội học lao động-công nghệ

Nghiên cứu về chủ đề này cho thấy sự chuyển đổi rõ nét về nhận thức của đội ngũ công nhân do sự thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, dự báo sự phát triển không liên tục (đứt đoạn) của cơ cấu đội ngũ công nhân trong một số ngành do đầu tư không đều trong chiến lược phát triển kinh tế.

Từ giữa những năm 90, chủ đề chính của các nghiên cứu tập trung vào quan hệ xã hội của công nhân trong doanh nghiệp, những khó khăn của công nhân trong sản xuất và đời sống do sự chuyển đổi cơ chế quản lí. Những nghiên cứu này cho thấy, trong giai đoạn đầu, quan hệ chủ-thợ chưa nảy sinh những vấn đề trầm trọng, song đã tiềm ẩn những dấu hiệu bất ổn, đặc biệt trong các doanh nghiệp không đảm bảo được các điều kiện lao động và bảo đảm xã hội theo quy định.

Nghiên cứu trong những năm tiếp theo tập trung vào các chủ đề như: Thái độ của công nhân trong các doanh nghiệp quốc doanh với việc cổ phần hóa; Nhu cầu đào tạo của công nhân; Nguồn bổ sung lực lượng và ảnh hưởng của nó đến chất lượng đội ngũ công nhân; Vai trò của công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các kết quả nghiên cứu cho thấy xu hướng lao động trẻ ở đô thị không muốn trở thành công nhân ngày một rõ nét, nguồn gốc bổ sung cho đội ngũ công nhân chủ yếu là thanh niên nông thôn, lao động di cư. Số học sinh tốt nghiệp phổ thông trở thành công nhân, hoặc muốn học nghề ngày một ít. Động cơ để trở thành công nhân cũng khác trước, chỉ khi không tìm được việc làm nào khác hay muốn thoát ly khỏi công việc nặng nhọc ở nông thôn. Đây là những nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công nhân cả về trình độ chuyên môn và nhận thức về vai trò của công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

10. Những vấn đề chính sách xã hội, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Xã hội Việt Nam khi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi việc xây dựng học thuyết chính sách xã hội. Vào những năm 90, Viện đã có những nỗ lực đề xuất khái niệm phúc lợi xã hội như là một phạm trù lý luận then chốt để khái quát hóa thực tiễn chính sách xã hội và phúc lợi xã hội, phúc lợi doanh nghiệp, hệ thống y tế vùng cao, khu vực các tổ chức xã hội tự nguyện.

Bên cạnh những phát triển lý thuyết cho bộ môn chính sách xã hội, Viện đã triển khai những công trình thực nghiệm liên quan đến các bộ phận hợp thành của hệ thống an sinh xã hội như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, phúc lợi doanh nghiệp, ưu đãi xã hội, đặc biệt các đối tượng chính sách. Những nghiên cứu này giúp làm rõ hơn hoàn cảnh và chính sách xã hội đối với các nhóm yếu thế như người dân tộc, phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, lao động di cư,… trong quá trình chuyển đổi xã hội.

Trong một thời gian dài, Việt Nam hầu như không hề biết đến những biến đổi về nhu cầu và thực tiễn công tác xã hội ở các nước công nghiệp hóa đi trước cũng như các quốc gia đang phát triển nền kinh tế thị trường. Viện cũng đã tiến hành nhiều nghiên cứu trường hợp về các mô hình công tác xã hội trong thực tế, góp phần đáng kể vào việc lấp các khoảng trống trong tri thức và kỹ năng công tác xã hội ở Việt Nam. Kết quả là, những năm gần đây, vấn đề này đã được các cơ quan hữu quan chú ý giải quyết, hình thành nên ngành công tác xã hội như một chuyên ngành đào tạo và một lựa chọn nghề cho các sinh viên và các nhà thực hành có tâm huyết và năng lực.

11. Đánh giá tác động xã hội và thẩm định chính sách, pháp luật

Song song với các nghiên cứu cơ bản và lý luận, trong 30 năm qua Viện Xã hội học đã tham gia tích cực vào các nghiên cứu có quan hệ trực tiếp với việc thẩm định chính sách, khẳng định chức năng thẩm định chính sách của xã hội học. Trong nhiều chương trình khoa học cấp Nhà nước, Viện đã tham gia thẩm định xã hội các dự án lớn về phát triển kinh tế-xã hội, giao thông nông thôn, tái định cư, điện khí hóa nông thôn; đánh giá tác động giảm nghèo, tái định cư, phát triển bền vững vùng Tây Nguyên,… Thông qua các hoạt động nghiên cứu thẩm định xã hội, Viện đã khẳng định được vai trò của mình như một tổ chức nghiên cứu và tư vấn chính sách có liên hệ mật thiết với thực tiễn phát triển của đất nước, chứ không phải là một đơn vị nghiên cứu học thuật, thuần túy hàn lâm.

Qua nhiều năm phối hợp và hợp tác khoa học với Ủy ban về Các vấn đề xã hội của Quốc hội, Viện đã thực hiện đánh giá, phản biện độc lập trong các dự án luật có liên quan như Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Dân số, Luật Việc làm, Luật Bảo hiểm Y tế, Luật đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, Luật Phòng chống mua bán người, và Luật Môi trường,... Các văn bản Luật nói trên sau khi được Quốc hội phê chuẩn, ban hành hoặc sửa đổi đều có sự đóng góp của các nghiên cứu xã hội học do các chuyên gia của Viện tư vấn kỹ thuật hoặc trực tiếp thực hiện. Mối quan hệ giữa nghiên cứu và chính sách-pháp luật trên lĩnh vực xã hội được thực hiện hiệu quả, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Viện Xã hội học

    Nội dung đang được cập nhật